Thứ Ba, 11 tháng 7, 2017

CHIẾU ĐỊNH YÊN

(Tạm thời chưa có phim)

LỜI BÌNH 

1. Chợ lát, chợ chiếu, chở chiếu : 24”

          Làng quê đó ở bên bờ sông Hậu, cách huyện lỵ Lấp Vò của tỉnh Đồng Tháp không đầy 10km. Tại đây, hơn một trăm năm trước, nghề dệt chiếu đã hình thành và phát triển, tạo ra truyền thống lao động nông nhàn cùng giá trị văn hóa dân gian. Ngày nay, sản phẩm của làng nghề tiếp tục khẳng định tên gọi : Chiếu Định Yên.

(Tựa phim)

2. Các loại sản phẩm ở chợ chiếu, không khí bán : 65”

          Chiếu Định Yên được các nhà buôn truyền miệng bài vè dễ nhớ :

Nửa trắng nửa hường
                                  (là) Chiếu tương dãy ốc,
Lằn ngang kẻ dọc
                                  (là) Chiếu con cờ
Xanh đỏ chen tơ
                                  (là) Hoa dăm chính hiệu
Định Yên xứ chiếu
Chợ sớm chợ chiều
Ai bán thì kêu
Ai mua thì gọi …

Thợ dệt cũng là người trực tiếp đem hàng hóa của mình ra chợ. Chất lượng sản phẩm, trình độ điêu luyện của tay nghề sẽ định giá cuối cùng cho chiếc chiếu.
Thương lái thường là người từ các nơi khác đến. Họ lựa chọn các loại chiếu phù hợp với thị hiếu tiêu dùng của người địa phương mà gom hàng. Chính vì vậy dân buôn có câu thiệu :

“Chiếu trắng đem bán miệt trên,
Chiếu bông chở xuống Trà Niên có lời”

Thì ra, loại chiếu bông có hoa văn, màu sắc sặc sỡ được thương lái đem tiêu thụ ở vùng Trà Niên, Rạch Giá, nơi có nhiều bà con dân tộc Khmer sinh sống. Tính thích nghi thị trường xuất hiện từ lâu đời ở làng Chiếu Định Yên.

( # nhạc )

3. Chợ, cận chiếu, người vác : 42”

          Chợ Chiếu Định Yên  là nơi duy nhất ở Đồng bằng sông Cửu Long còn giữ hình thức chợ phiên.

          Thời điểm họp chợ lệ thuộc vào con nước và nhu cầu thu mua của thương lái. Vì vậy phiên chợ thường không diễn ra vào một giờ cố định mà cứ xoay vòng hết ngày đến đêm.

          Phiên chợ này bắt đầu từ 5 giờ sáng hôm nay, không ai hẹn ai, cứ 4 giờ sáng hôm sau người mua kẻ bán lại gặp nhau ở chợ.

          Từ chợ Chiếu Định Yên, sản phẩm của làng nghề tỏa đi khắp miền sông nước Nam bộ.

Xuồng ai đi ngược miền trên
Chở bao nhiêu Chiếu Định Yên nặng tình.

( # nhạc )

4. Lia cánh đồng rẫy, đốn lát, chẻ lát, phơi lát : 66”
         
          Định Yên là một làng trù phú được bồi đắp bằng phù sa của sông Hậu. Thừa hưởng giá trị sinh thái bãi bồi, người dân ở đây trồng lát, phục vụ cho nghề dệt chiếu. Cứ mỗi năm một kỳ thu hoạch, hết đời này qua đời khác, nghề trồng lát trở thành một nghề trong làng nghề Định Yên.

Lát Định Yên ai siêng lựa đất
Cọng cứng dài, dai chắc chiếu bền.

( # nhạc )
         
Để dệt được một chiếc chiếu, người ta cần phải có ít nhất 2 ngàn sợi lát như thế. Sợi nguyên liệu đó càng được trau chuốt kỹ lưỡng thì chất lượng của thành phẩm càng cao. Bởi vậy những người có nhiều kinh nghiệm thường đảm trách công việc đầy tính kiên nhẫn này.

( # nhạc )

          Ngày nay, trước nhu cầu ngày càng tăng của thị trường chiếu, làng nghề Định Yên hình thành thêm chợ nguyên liệu. Chợ này thu hút nguồn lát sợi từ các vùng lân cận, tạo ra một mô hình sản xuất mới cho làng nghề – Đó là sự phân chia thị trường nguyên liệu và thị trường thành phẩm.

( # )

          Sợi lát nguyên liệu được thợ dệt lựa chọn kỹ càng theo nguyên tắc truyền thống :

Gốc ngọn đồng thủ, đồng thanh,
Chiếu lẫy mới khéo, chiếu hàng mới suông.

( # nhạc )

          Tính ra, chợ nguyên liệu hình thành ở Định Yên chưa đầy 10 năm, nhưng đã sớm khẳng định một nhịp điệu sản xuất mới, phá vỡ thế khép kín trước đây, tạo ra một sinh khí hoạt động mới cho làng nghề. Người thợ không còn phải lo chạy vạy tìm giống, kiếm đất để trồng lát, mà chỉ cần ra chợ mua nguyên liệu theo cách tính lời lỗ của mình. Cứ như thế, hơn 10 ngàn thợ dệt của làng nghề Định Yên thích nghi dần trong dòng chảy của thị trường.

( # nhạc )

5. Cận khung dệt, dệt chiếu lẫy : 35”

          Thợ dệt chiếu lẫy, tức loại chiếu có tạo hình, tạo chữ theo mẫu định trước, thường là những người có đẳng cấp, có thâm niên trong nghề.

          Dệt một đôi chiếu lẫy, người thợ phải tốn thời gian gấp 6 lần khi dệt một đôi chiếu thường. Thợ lẫy là người quyết định chất lượng cho đôi chiếu :

Khéo tay chùi sợi long hai
Lẫy trên, luồn dưới mới nài chữ ra.

( # nhạc )

6. Thợ lẫy trẻ ; dệt : 36”

          Theo truyền thống của làng nghề Định Yên, những ai muốn làm thợ lẫy đều phải có một thời gian rèn tay nghề bằng cách dệt loại chiếu bông thông thường. Từ đơn giản dần dần mới tập dệt loại chiếu có hoa văn phức tạp. Tùy thuộc vào năng khiếu, có thể từ 5 đến 10 năm, thợ lẫy mới được xem là thành thạo tay nghề.

( # nhạc )

7. Đoàn ca đi ngoài đường, lia dệt vào nhóm ca : 12”

          Nghề chiếu và thợ dệt đã bao năm gắn bó tình người Định Yên ; và làng quê này càng đầm ấm nồng nàn hơn trong tình người. Đã có ai đó một lần đến rồi đi trong niềm vấn vương.

( Trích câu vọng cổ )

8. Cắt rìa xếp chiếu, ra rẫy : 42”

          Sức sống của làng chiếu Định Yên cứ như thế mà đậm đà nghĩa xóm tình làng. Những đôi chiếu Định Yên cũng vì vậy mà đượm sắc thắm màu từ tay những lớp thợ hồn hậu cần cù.

Sáng ra chợ chiếu bán buôn,
Trưa vào đồng ruộng, chiều luồn dây trân.

          Không tất bật, cũng không nhàn nhã, lịch lao động của người làng chiếu được xếp xen kẽ theo buổi, theo thì. Hết vụ lúa lại đến mùa rẫy, đất Định Yên không phụ lòng người Định Yên.

( # )

9. Người đi ngoài đồng, cây bô : 38”
         
          Có những xóm trong làng nghề đã giành đất, chia vụ để gieo cây bố, cây đay – nguồn nguyên liệu thiết yếu của nghề dệt chiếu. Chỉ cần 1 ngàn mét vuông để trồng loài  cây này, đã có thể tạo việc làm cho 5, 7 nhân công trong thời gian nông nhàn. Cây bố, cây đay tỏ ra phù hợp với đất Định Yên.

( # )

10. Cao bố, phơi bố : 50”

          Không ai nhớ từ lúc nào cơ sự phân chia rạch ròi giữa xóm trân và xóm dệt, thợ trân và thợ dệt. Sản xuất dây trân có một quy trình khá tỉ mỉ. Cạo vỏ xong, sợi đay thô được đem phơi thật kỹ. Nhưng đấy chỉ mới là giai đoạn đầu của sợi dây trân.

( # )

          Sợi đay thô được chuyển đi tập trung ở những hộ chuyên việc chấp trân, một công đoạn riêng của nghề làm chiếu ở Định Yên.

( # )

          Khi qua tay thợ chấp trân, sợi đay được đánh xoắn lại theo kích cỡ riêng của từng loại chiếu. Vòng quay của thợ trân cũng chính là vòng xoay của thị trường sợi đay.

( # )

11. Bó dây đay, chợ đay, quay trân, mưa : 41”

          Bên chợ chiếu luôn luôn có chợ dây đay, thêm một biểu hiện nữa về sức sống của làng chiếu Định Yên. Bất cứ người thợ dệt nào cũng có nhu cầu tìm đến khu chợ này để lựa chọn dây trân vừa ý, thích hợp với cách tính toán của mình.

          Như vậy, làng nghề đã có sự phân công lao động theo hướng chuyên môn hóa và từ đó có sức cạnh tranh cao – Tất cả vận hành nhịp nhàng và hoàn hảo như một guồng máy. Nhưng chuyện làm ăn, người dân làng chiếu còn phải đối mặt với bao điều thất thường của trời đất.

( # mưa và nhạc )

12. Đình thần, phơi chiếu : 63”

          Trải bao “phong tỏa bất kỳ”, cuối cùng tổ tiên cũng phò hộ cho dân làng Định Yên hành nghề sung túc.

Sân đình phơi chiếu bông hường,
Cầu trời khẩn đất cho bừng nắng lên …

( # )

          Đình làng Định Yên được sắc phong năm 1852. Làng chiếu Định Yên cũng ra đời vào khoảng những năm sau đó.

          Nhìn lại lịch sử hơn 100 năm của làng nghề, người dân Định Yên tri ân những bậc “tiền hiền khia khẩn, hậu hiền khai cơ”. Và điều đó nhắc nhở cho con cháu làng Định Yên trong thời hiện đại biết trân trọng, giữ gìn những gì mà cha ông đã dầy công tạo dựng.

( # nhạc )


13. Khắc gỗ, rộng đình làng, cúng tổ, bà lão : 36”
          Theo tập tục cổ truyền còn lưu lại ở làng Định Yên, người theo nghề chiếu, cứ vào ngày 16 âm lịch mỗi tháng ở từng hộ gia đình đều làm lễ cầu may, mong được ông bà phò hộ để nghề dệt chiếu thịnh đạt.

          Nhưng cần cù lao động là trên hết, bà lão này đã tận tụy với nghề suốt 60 năm. Giờ đến tuổi nghỉ ngơi, bà chỉ dẫn, truyền lại cho con cháu những kinh nghiệm quý trong đời làm nghề chiếu của bà. Có lẽ bà rất vui khi lớp trẻ biết kế thừa sự nghiệp của tổ tông.

14. Ghe chở lát, dệt chiếu : 40”
         
( 9” nhạc )

          Làng Chiếu Định Yên ngày nay hoạt động với nhịp sản xuất mới. Những người thợ có nhiều kinh nghiệm được ứng dụng thêm phương thức dệt mới cho ra nhiều sản phẩm theo mẫu mã mới, đáp ứng nhu cầu xuất khẩu.

          Càng tiếp cận với công việc mới, những người thợ chiếu nhớ lại câu ca xưa :
Tay vương mấy sợi trân mành
Sỏ xiên cọng lát cho thành long hai
Long hai bỏ vắn lấy dài
Kéo mau khung dệt liền tay mí kề.

( # nhạc )

15. Xén rìa, Hợp tác xã, dệt, nhuộm :
          Để sản xuất trên quy mô lớn và đảm bảo tiêu chuẩn xuất khẩu, lớp thợ trẻ cũng đã được tập huấn. Từng công đoạn, từng khâu công việc trở nên khác lạ hơn cách làm cổ truyền, nhưng vốn có truyền thống, lại có tổ chức hợp tác xã hỗ trợ, lớp thợ trẻ không ngừng năng động.

          Có nhiều tiêu chuẩn của mẫu mã hết sức khắt khe. Loại chiếu 5 màu hay còn gọi là chiếu ngũ sắc, đòi hỏi người thợ dệt vừa nhanh tay vừa hết sức tỉ mẩn. Mỗi ngày hai thợ dệt giỏi mới có thể hoàn tất hai đôi chiếu kiểu mới.

( # )

          Mọi kết quả trong sự phát triển đều bắt nguồn từ sự kết nối giữa truyền thống yêu lao động và lòng yêu nghề. Bởi vậy, dù có sự thay đổi phương pháp kỹ thuật, người dân làng nghề Định Yên vẫn phát huy tốt khả năng sáng tạo của mình.

Gió đưa ngọn lát bên cồn
Định Yên giữ lại bóng hồn người xưa …

16. Chiếu và thương hiệu : 22”

          Người dân Định Yên thừa kế truyền thống quý báu của tổ tiên, biến giá trị văn hóa ấy thành sức mạnh mới trong thời kỳ hội nhập. Cách sản xuất dân gian không còn phù hợp được thay thế bằng phương pháp mới.

          Chiếu Định Yên cần có một thương hiệu để tiếp thị và cạnh tranh. Tên tuổi của làng chiếu cần được tiếp tục khẳng định bằng chất lượng sản phẩm hàng hóa, bằng cả giá trị tinh thần do người Định Yên tạo ra và bằng cả lời ca của chính những người thợ trẻ.

( Trích câu vọng cổ )

17. Chợ chiếu, cuốn chiếu, làm sợi bố, dệt : 1’

          Làng Chiếu Định Yên với nét đẹp truyền thống vốn có, đang tiếp tục được truyền nối. Niềm tự hào về làng chiếu càng thôi thúc lòng yêu quê hương và chí làm giàu của mỗi người dân Định Yên.

Hoa dăm, dãy ốc, trắng hường,
Định Yên còn chiếu, người thương còn về …

          Và chúng ta về với Định Yên để nghe câu ca quen thuộc ; nghe câu chuyện tình chung thủy của người con gái xứ chiếu ; nghe râm ran tiếng nói cười từ buổi chợ đêm.

          Định Yên, với sản lượng hơn nửa triệu chiếc mỗi năm, khẳng định một sinh lực được phát huy từ nghề truyền thống thành giá trị kinh tế và giá trị văn hóa.

Định Yên, với những con người cần cù và giàu lòng yêu quê hương đang và sẽ phấn đấu cho một làng nghề giàu đẹp.

Định Yên, với hơn 10 ngàn tay thợ lành nghề, một tiềm năng đầy sức sống, hứa hẹn về tương lai của làng nghề trong thời kỳ mới.

Và, Định Yên, với nét đẹp của truyền thống làng nghề, nét đẹp của tâm hồn con người sẽ còn mãi giữa thời gian./-



x

Thứ Ba, 4 tháng 7, 2017

NGHỀ NUÔI CÁ VEN SÔNG

(Tạm thời chưa có phim)

LỜI BÌNH 

1. Ngã ba sông, xóm bè, thu hoạch cá, cận cá : 34”

          Trải dài hơn 2.500km, dòng sông Mékong đổ về hạ nguồn như một tất yếu của lịch sử tự nhiên. Trên phần lãnh thổ Việt Nam, Ngã ba sông Châu Đốc là nơi tụ hội của nhiều loài thủy sản nước ngọt.

          Hưởng lộc trời phú đó, con người miền An Giang thông minh và cần mẫn đã đóng góp cho nền văn minh sông nước Đồng bằng Nam bộ nhiều bước tiến lớn. Từ kinh nghiệm đánh bắt hoang dã, sau mấy trăm năm họ đã tạo ra một nghề mới đậm nét nhân văn.

(Tựa phim)

2. Cô gái nhìn tượng đài, nhìn đền thờ Nguyễn Hữu Cảnh ; sắc phong, ông lão lạy, sông ruộng : 52”

          Nhìn lại lịch sử hình thành nghề cá, chúng ta cùng đến đầu nguồn, nơi Ngã ba sông Châu Đốc, viếng thăm đình thần Nguyễn Hữu Cảnh, thành kính ngưỡng vọng vị Chưởng cơ đã có công lớn trong việc đặt định cương vực, khai mở nghề nghiệp cho lưu dân. Quốc sử quán triều Nguyễn chép rằng, năm Mậu Dần, 1698, nhà vua sai Chưởng cơ Nguyễn Hữu Cảnh làm Thống suất, đến đây giúp việc yên dân, đặt quan cai quản và ra chiếu chỉ chiêu mộ điền tốt (tức người giỏi ruộng rẫy và chài lưới). Dụ rằng : “Phàm, dân có biết nghề gì thì  chiêu tập họ về, cho tùy nghề mà làm. Người nào thiếu vốn thì được vay ; truyền miễn thuế ba năm”.

( # nhạc )

3. Nước vận, lục bình chìm, ông già nhìn, nước chảy : 20”

          Quy luật dòng chảy và thời gian đã làm lắng kết những kinh nghiệm từ nhiều thế hệ ngư dân. Ông Nguyễn Hữu Chỉnh là một trong những lão làng của nghề cá. Hơn 90 tuổi ông vẫn thuộc làu lời dạy của tổ nghiệp :

“Tháng năm mùa nước quay về,
Tháng bảy cá xuống, rớ, bè nổi lên.”

( # 5” nhạc )

4. Xúc cá, rộng cá, bè gỗ xưa, ảnh Châu Đốc : 57”

          Kinh nghiệm khai thác đã giúp cho dân chài biết cách rộng cá trong dòng nước chảy nhằm lưu trữ nguồn thực phẩm tươi sống lâu ngày.

          Với phát hiện đó và sự chọn lọc kinh nghiệm từ các dân tộc anh em, ngư dân Châu Đốc đã tạo ra những rộng cá lớn để nuôi các loài thủy sản.

          Dùng gỗ tạo ra khung sườn và đăng bao bọc, rộng cá được nâng lên nhờ hệ thống phao tre nứa, gọi là “Bè cá”.

          Bè cá xuất hiện ở Ngã ba sông Châu Đốc vào những năm đầu thế kỷ 20. Các nhà nhiếp ảnh Pháp đã ghi lại hình ảnh lịch sử này. Bến sông Châu Đốc lúc ấy hãy còn ít bè cá, nhưng đã cho thấy manh nha một làng nghề.

          Bây giờ, với gần 4 ngàn bè cá, làng nghề nuôi cá ven sông đã tô điểm cảnh sắc cho bức tranh đầu nguồn.

( # 7” nhạc )

5. Nước, bản đồ phát triển nghề nuôi cá, lục bình : 56”

          Xuôi dòng thời gian, từ cái nôi Châu Đốc, các làng cá bè nổi lên ở Đồng Tháp, Long Xuyên, Cần Thơ, Vĩnh Long ... Sự phát triển đó là quy luật, điều mà dân chài xưa từng nói đến :

“Nước nổi, trôi đám lục bình,
Sông đẻ ra cá, người sanh ra làng.”

          Rồi các làng bè mới, những lớp người chủ mới ngày một nhiều thêm. Họ cần mẫn, siêng năng, tiếp thụ những kinh nghiệm quý báu của tiền nhân mà lập nghiệp, nuôi chí làm giàu.

          Chủ nhân của bè cá này khởi nghiệp ở độ tuổi “tam thập nhi lập” – Tuổi đời vững vàng nhất để vào nghề.

          Cứ 6 tháng, anh thu hoạch một kỳ. Liên tục như vậy, vòng quay của mùa vụ nâng dần giá trị tài sản của ngư dân ; nhịp sản xuất cũng là nhịp sống của làng cá.

( # )

6. Ghe đi qua, nước vận, tàu ra xóm bè, bè mới : 47”

          Theo dòng Tiền Giang và Hậu Giang, chúng ta xuôi về hạ lưu của hai con sông hiền hòa này. Phía xa kia là một làng bè mới ở ven sông Cổ Chiên.

          Cổ truyền, muốn đóng một bè mới, ngư dân lựa ngày lành tháng tốt để khởi công. Chủ nhân Trần Văn Chiêu rước gánh thợ giỏi từ Châu Đốc, An Giang đến giúp. Họ là những tay thợ có nhiều kinh nghiệm được tích lũy qua nhiều thế hệ. Thợ cả là người nắm vững nguyên tắc của xưa đúc kết :

Chắc ăn đinh đóng chèo hai,
Cây vênh chèn xéo, nại ngoài vô trong.
Dọc liền, ngang thẳng, cao đồng,
Để khi hạ thủy, bè không phập phều ...

( # 8” nhạc )


7. Nhà bè ông Tuồng, cá nhảy, tiếp khách, xem cá : 30”

          Đến với làng nghề Long Xuyên, chúng ta ghé thăm hộ nuôi cá da trơn Võ Văn Tuồng. Gia đình ông có 5 thành viên, mỗi người đều có một công việc riêng với bè cá.

          Là chủ gia, ông Tuồng quán xuyến mọi việc, chiếc bè chính là căn hộ đáng yêu. Cuộc sống của cả gia đình gắn chặt với nghề nuôi cá.

          Riêng với ông Tuồng, nết na của cá ba sa, tập tính của loài cá tra, ông đã thuộc lòng từ lúc mới vào nghề.

(Lời ông Tuồng về sự gắn bó)

8. Bè ba chiếc, ông Tuồng viết, bảng theo dõi, cá ăn : 37”

          Biết chắt mót và cần mẫn, từ một bèlúc khởi nghiệp, chỉ sau mấy năm, ông Tuồng sắm thêm được hai bè nữa. Với 3 bè đó, mỗi năm ông sản xuất hàng trăm tấn cá.

          Một trong những bí quyết dẫn đến thành công cho người nuôi cá là biết làm hạ giá thành sản phẩm. Thực tế đã chỉ ra cho ông Tuồng những bài toán được chi tiết hóa đến từng ngày. Số cộng đầu tư phải biến thành số nhân cho độ lớn của cá. Nhưng, đối với ngư dân, nghề nuôi cá không chỉ là vấn đề lợi tức, mà ở đó còn có một giá trị khác, về tinh thần cuộc sống.

(Lời ông Tuồng về cuộc sống trên bè và sự gắn bó với cá)

9. Người nhìn ra bè, kéo thùng bè bằng dây, làng bè rộng : 31”

          Cuộc sống của người nuôi cá ven sông có một sợi dây hữu hình mà cũng vô hình nối kết giữa con người với thiên nhiên ; giữa sự năng động và tính thích nghi. Với họ, không gian là không có khoảng cách ; chỉ có dòng chảy của nước và thời gian mới là điều kiện để sinh sôi những làng bè.

( 10” nhạc )

10. Tư liệu bè xưa, ông Tư Đá nhìn, bè cũ, cối xay cải tiến, ông Tư nhìn lại : 87”

          Để so sánh với hiện tại, chúng ta cùng ngược về quá khứ của những làng bè mấy mươi năm trước. Thuở ấy, quy mô của những bè cá còn đơn giản, làng bè chỉ có vài trăm chiếc tập trung ở ngã ba sông Châu Đốc. Bây giờ nhìn lại mới thấy rõ bước phát triển nhanh chóng của nghề nuôi cá ven sông.

          Các bè hiện đại này là tài sản của ông Trần Văn Nhân, dân làng nghề thường gọi là Tư Đá – Chủ nhân của 25 bè cá da trơn.

          Như để đánh dấu chặng đời nhiều năm theo nghiệp cá bè, ông giữ lại một bè cá kiểu cũ làm kỷ vật, và nó vẫn còn hữu dụng ít ra là hàng chục năm nữa.

Cơ giới hóa khâu tổng hợp thức ăn cho cá là một cải tiến lớn của ngư dân, trong đó ông Tư Đá có nhiều đóng góp. Hệ thống nấu – trộn – nghiền mà ông chú tâm thiết kế đã làm giảm đáng kể giá thành sản xuất.

          Trước kia mỗi bè cá phải tốn hàng chục công nhân. Mọi việc đều làm thủ công, khó có thể đáp ứng được nhu cầu sản xuất trên quy mô lớn. Sau nhiều năm hết bức xúc lại nghiền ngẫm thể nghiệm, ông quyết định đầu tư để tạo ra hệ thống lò đốt trấu, sử dụng cơ khí trộn thức ăn chín hỗn hợp cho cá. Công trình sáng tạo của ông được phổ biến rộng khắp các làng bè.

(Ông Tư Đá nói về cách làm giảm giá thành)

11. Thu hoạch, chuyển đi, câu cá, sông : 45”

          Giá thành rẻ, chu kỳ sản xuất rút ngắn đã chứng minh thêm bản lĩnh sáng tạo của người nuôi cá da trơn.

          Thị trường là động lực tất yếu thúc đẩy đến kết quả đó. Nhưng truyền thống và lịch sử làng nghề còn khẳng định bằng yếu tố khác.

          Dân gian ở đây truyền miệng rằng :

“Cân kéo đổ nghiêng, kẻ siêng người biếng,
  Ai lơi công giỏ nhổng đầu khiêng,
  Người nào đút cá ăn tiền,
  Nửa năm, chín tháng, bè nghiêng của dồn.”

          Lời khuyến dụ đó đã làm nặng cân thêm cho loài cá da trơn của miền Châu Đốc – An Giang.

( # nhạc 8” )

12. Xúc cá, lên xe, dở bao, cá dẫy dụa : 18”

          Từ các làng bè, tàu chuyên dùng vận chuyển cá tươi sống đến nhà máy chế biến. Nghề nuôi cá ven sông trở thành công đoạn đầu trong guồng máy vận hành của hệ thống sản xuất và chế biến thủy sản nước ngọt. Đây là chặng xuất phát trong cuộc hành trình của loài cá da trơn.

( # 7” nhạc )

13. Công nhân chế biến, thau cá xoay, đăng quầng : 30”

          Nguồn cá nguyên liệu khi qua dây chuyền chế biến của nhà máy trở thành thương phẩm. Vòng quay kinh tế lại tiếp tục xoay cùng độ phát triển của nghề nuôi cá ven sông.

( # nhạc )

          Hiểu rõ tập tính của loài cá da trơn, nắm bắt quy luật dòng chảy của sông, ngư dân sáng tạo ra cách nuôi mới, gọi là “đăng quầng”.

          Đăng quầng là cách nuôi dùng lưới bao bọc một khu đất ngập nước ven sông, hoặc trên ruộng, vào mùa nước nổi. Cách nuôi này đầu tư rất thấp mà hiệu quả kinh tế cao. Ven sông Cửu Long, từ đầu nguồn đến các cù lao, cồn bãi, hầu như nơi nào cũng có thể ứng dụng nuôi cá da trơn theo phương pháp đăng quầng.
          Bài toán của ngư dân cho thấy, mỗi hecta mặt nước đăng quầng, vốn đầu tư ban đầu chỉ khoảng 60 triệu đồng, gồm chi phí vét bùn và cặm tre, giăng lưới.

          Nghề nuôi cá ven sông tạo thêm một dáng vấp mới cho nền văn hóa miền sông nước.

( # 6” nhạc )

14. Hoang hóa, giăng lưới, ao cá  xưa, ao mới : 85”

          Ở những nơi luồng gió phát triển ngư nghiệp chưa thổi tới, nhiều thửa đất ven sông vẫn còn chịu cảnh hoang hóa. Dưới mặt đất ngập nước, các loài thủy sản tự nhiên không còn phong phú như xưa, do nạn đánh bắt bừa bãi. Trước thực trạng này người dân chỉ có hai cách lựa chọn, hoặc bắt hết những đàn cá cuối cùng ; hoặc biến đầm hoang thành ao nuôi cá thâm canh. Thật đáng mừng, mấy năm qua đã có hàng ngàn hộ nông dân chọn cách thứ hai.

( # 9” nhạc )

          Nhớ lại, nghề nuôi cá ven sông từ những năm 80 phổ biến là dụ cá thiên nhiên, chỉ phù hợp với nền kinh tế tự cấp, tự túc.

          Ngày nay, trên những thửa đất tương tự, ngư dân đã lập nhiều trại cá với quy mô lớn.

          Dựa vào quy luật bán nhật triều, mỗi ngày có hai con nước lớn ròng, ngư dân đào ao ngay sát bờ sông, nuôi cá da trơn.

          Ông Nguyễn Văn Sự chủ trại cá của hệ thống ao 6.000m2 . Nhờ áp dụng thủy triều, ông đã có thể nuôi  với mật độ 150 con/m3 mà nước ao vẫn luôn luôn sạch, chất lượng cá đạt tiêu chuẩn xuất khẩu – Nguồn nước sông được sử dụng đúng cách để làm giàu.

(Lời ông Sự về cách xả, lấy nước)

15. Cắt rau, cá ăn, cho thức ăn vào cối, cá ăn : 32”

          Nguồn nước sạch  giúp cho rau xanh tươi tốt. Chúng là một trong các thành phần quan trọng của mồi cá nuôi. Dân gian từng đúc kết :

          “Năm bó rau tươi trộn mười cân cám,
  Nấu cho nhừ cá mới phàm ăn, 
  Nhồi viên một bữa hai lần,
  Vênh râu cá đớp mười phần lớn mau”
( # nhạc 10” )


16. Sông nước ròng, lục bình, lia vào ao : 24”

          Việc ứng dụng thủy triều để sản xuất đã được ghi chép trong lịch sử văn minh miệt vườn Nam bộ.

          Từ cuối thế kỷ 17, lưu dân khẩn hoang đã biết đào mương, đắp bờ cao trồng vườn, lấy ao sâu nuôi cá.

          Phải chăng đó là nền tảng, là truyền thống để ngày nay thế hệ mới biết tính toán làm ăn trên quy mô lớn hơn.

(Lời ông Hồng về đầu tư làm ao so với đầu tư làm bè)

17. Vườn ao, cá ục, các chòi du lịch, chiều : 35”

          Nhạy bén trước nhu cầu mới của nền kinh tế hội nhập, ngư dân nhiều nơi đã xây dựng khu nuôi cá thành điểm tham quan, du lịch sinh thái. Nhờ vậy, không những tần suất sử dụng mặt bằng được khai thác triệt để, thu nhập tăng lên, mà còn góp phần thiết thực bảo tồn bản sắc văn hóa dân tộc.

( # 10” nhạc )

18. Hoàng hôn, đèn đêm Châu Đốc, trẻ học, đốt nhang, các bậc tiền bối : 45”

          Chiều xuống, đêm trở về với làng nghề nuôi cá ven sông ...
          “Đèn nào cao bằng đèn Châu Đốc ...” Câu ca xưa gợi lại biết bao điều cho cuộc sống thời nay. Thế hệ mới sinh ra và lớn lên từ làng bè sẽ lại tiếp tục dở những trang đời mới từ bề dày kinh nghiệm, từ giá trị sáng tạo của cha ông.

( # 2” )

          Nhiều bè cá có lịch sử riêng, và đây là căn hộ có 3 đời gắn bó với nghề này.

          Ông Phạm Văn Quý lập nghiệp từ đầu thế kỷ 20. Con là Phạm Văn Nhựt, tiếp nối, và cháu nội  Phạm Văn Dũng là người kế tục ...

( # 10” nhạc )

          Đêm của làng bè yên ả mà cũng rộn ràng. Đàn cá đòi ăn lúc giữa khuya người chủ phải thức giấc. Lao động nghề cá cứ như thế tạo ra nhịp sống. Hết mùa này lại đến vụ khác, kế tiếp nhau mãi.

( # 10” nhạc )

          No bữa, đàn cá lặn sâu khi ngày mới vừa đến.

          Sông vàng nhuộm ánh bình minh
          Cá bạc ẩn sắc, náu mình, dòng trôi ...

( # 8”nhạc )

19. Các lớp nhà trong nắng sớm. Nhà có hoa : 30’

          Ngã ba sông Châu Đốc càng lúc càng rộng ra, như thể mở thêm cánh tay hiền hòa, ôm trọn làng bè đang ngày một thêm đông đúc.

          Hơn ba ngàn chiếc bè kết nối lại thành làng nổi, thể hiện sức sống bền bỉ của con người, sự bao dung, phóng khoáng của dòng sông.

          Nhưng, lắm lúc sông chẳng bình yên. Thế kỷ trước Phan Văn Trị đến đây từng thốt lên rằng :

Bảy Núi mây liền chim nhíp cánh,
Ba Dòng nước chảy cá vênh râu.

          Ngư dân đã bao phen đấu tranh với thiên tai và cả nhân họa. Hình ảnh này gợi lại cho chúng ta nhớ lại những năm giống cá da trơn khan hiếm do người dân khai thác một cách vô tội vạ, dẫn đến tình trạng nguồn giống tự nhiên ngày một cạn kiệt, gây hệ lụy đến nghề nuôi cá ven sông.

20. Cào cá, đổ đục cá, đổ vào sô, ảnh làm giống : 39”

          Loài cá da trơn có tập tính sinh sản khá đặc biệt. Chúng đẻ ở vùng hạ Lào trên sông Mêkông. Cá con theo dòng chảy xuống vùng này và lớn lên đến độ vừa nuôi.

          Phải mất một thời gian dài người dân mới hiểu được quy luật ấy nên đã vô tình làm thiệt hại nguồn giống. Cá con non yếu không thể tồn tại trong cách đánh bắt như vậy.

          May mắn thay, vào thập niên 80 của thế kỷ hai mươi, các nhà khoa học ở An Giang đã thiết lập được quy trình sinh sản nhân tạo loài cá da trơn.

          Xem ra, chỉ có mấy công đoạn đơn giản mà con người phải mất nhiều thế kỷ mới tạo được nguồn giống chủ động như thế. Tiến bộ của khoa học đã được chuyển giao đến ngư dân để ứng dụng rộng rãi.

(Lời ông Kỹ sư Vinh về sản xuất giống)


21. Chở cá giống, cá ăn, hội nghị nghề cá, sông : 47”

          Như vậy, ngư dân được thừa hưởng cùng lúc ba điều lợi : chủ động nguồn giống để sản xuất trên quy mô lớn, bảo vệ môi trường tự nhiên và hạ giá thành sản phẩm.

          Nhiều ngư dân tháo vát lập trại cá giống, tiếp cận nhanh với quy trình công nghệ sinh sản loài cá da trơn, đáp ứng nhu cầu thị trường đang ngày càng gia tăng. Sự năng động ấy tạo công ăn việc làm cho nhiều hộ nông dân ; giúp sức cho ngành ngư nghiệp Đồng bằng sông Cửu Long phát triển.

          Trước những thử thách mới, ngư dân cần có sự hợp lực mới để tăng cường sức mạnh cạnh tranh. Hội nghề cá ra đời nhằm khai thác khả năng đó và tạo điều kiện thuận lợi cho người làm nghề cá sản xuất, kinh doanh.

          Các câu lạc bộ 10 ngàn tấn, 15 ngàn tấn, 20 ngàn tấn hoạt động từ nhiều năm qua là nền tảng cho hội nghề cá hình thành.

(Lời ông Tuồng về lợi ích gia nhập CLB nghề cá)

22. Cá ục, bè cũ bè mới, bè xưa, Tây xem : 1’45”

          Như cá cần có không khí để ngóp, cần có nước để vẫy vùng, ngư dân thời hiện đại cần đến sự phát triển cân xứng với năng lực sản xuất vốn có của mình. Con cháu người làm nghề cá khi ra riêng cần được hưởng quyền bình đẳng như một thành viên của làng bè. Thực tiễn đó là nhịp sống vừa trầm lặng vừa sôi động diễn ra từng ngày.

          Ngược dòng thời gian, từ những chiếc bè đơn giản thời xa xưa, người làm nghề cá ven sông đã vượt lên những chặng khá dài đúc kết những kinh  nghiệm và phát huy sáng tạo của cha ông, đưa làng nghề xứng đáng với tầm vóc mới trong thời kỳ công nghiệp hóa.

( # )

          Trong bối cảnh hội nhập, ý nghĩa nhân văn của truyền thống nghề cá đã tôn thêm giá trị của thương phẩm thủy sản.

          Trong ánh mắt của người ngoại quốc, rõ ràng loài cá da trơn đã lớn lên bằng độ tinh khiết của sông nước, của bàn tay cần cù người Việt Nam.

          Giờ đây, họ đang được hiểu thêm, loài cá ấy còn được nuôi nấng bằng cả một nền văn hóa lâu đời. Trong đó có truyền thống hiếu khách và trọng danh dự ...

( # 10’ nhạc )

23. Nước vận, bến XN, lóc phi lê, các chế phẩm : 72”

          Xuôi theo dòng chảy của sông Cửu Long, loài cá da trơn từ các làng nghề tiếp tục cuộc hành trình vào nhà máy, hóa thân thành nhiều sản phẩm xuất khẩu, làm giàu cho nền kinh tế Đất Nước.

          Từ chỗ chưa một quốc gia nào biết đến, bây giờ loài cá da trơn Việt Nam đã có thương hiệu Basafish, Trafish ở thương trường quốc tế.

          Rồi cũng từ loài cá này, gần 50 loại sản phẩm khác được chế biến theo khẩu vị người Á Đông.

          Cá đã nằm trên thớt thì không còn tung hoành, vùng vẫy. Nhưng, những người chủ của nó đã vạch sẵn một đường đi mà đích đến của chúng là nhiều địa chỉ, nhiều đối tác khác nhau. Sứ mệnh của loài cá da trơn còn được khẳng định khi ngành chế biến tạo ra nhiều sản phẩm thích hợp tâm lý người tiêu dùng. Hình bóng của loài  cá đặc sản đã khơi gợi hương vị quê nhà ; giữ đậm sắc thái của nền văn hóa ẩm thực Việt Nam.

          Nghề cá bây giờ gồm chung cả nhà chế biến lẫn người nuôi. Mỗi sản phẩm là sự tích hợp của tâm huyết ; của chí làm giàu ; của tính sáng tạo và niềm yêu lao động.

(Lời ông Tư Đá về quyết tâm sản xuất)

24. Ông Tư đánh máy toán, nhìn ra cửa sổ, đình làng, thu hoạch, nhìn tượng đài : 1’15”

          Với số vốn nhiều tỷ đồng tích lũy được từ nguồn sản xuất cá da trơn, ông Tư Đá là một trong số ngư dân thành đạt. Sau lưng ông là bề dày kỳ tích, trước mặt ông là tương lai của nghề cá – cái nghề mà ông và hàng chục ngàn đồng nghiệp đeo đuổi suốt bấy lâu.

          Cảm ơn các bậc tiền nhân đã một thuở chiêu mộ hiền tài, khởi nghiệp cho lương dân.

          Từ cánh cổng mở toang của quá khứ, chúng ta nhìn thấu đến hiện tại và lấy đó làm thước đo cho độ sâu lịch sử nghề cá ven sông.

          Loài  cá giúp ích cho ngư dân miền đất này suốt mấy thế kỷ, bây giờ lại tiếp tục làm giàu cho Đất Nước. Công lao đó hẳn đáng được tôn vinh theo đạo lý truyền thống của dân tộc.

          Và đây, loài  cá da trơn lại được hóa thân từ bàn tay nghệ sĩ. Ông muốn gởi gắm niềm tôn vinh ấy đến con người – Những thế hệ ngư dân kế tục nhau lao động và đấu tranh để bảo tồn, phát triển nghề nuôi cá ven sông – Nét nhân văn biểu hiện sâu sắc trong dòng chảy của lịch sử Đất Nước./-