Hiển thị các bài đăng có nhãn LỜI BÌNH. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn LỜI BÌNH. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 2 tháng 10, 2017

VIẾNG CHÙA PHẬT TỔ CÀ MAU

(Tạm thời chưa có phim)

LỜI BÌNH

1. Nét bên ngoài chùa Phật Tổ ; viếng :

          Chùa Phật Tổ có tên chữ là Sắc Tứ Quan Âm Cổ Tự.
          Ngôi chùa được kiến trúc theo kiểu “trùng thềm điệp ốc”, với các mái cong phổ biến ở các đình chùa Nam bộ. Những họa tiết ở đỉnh nóc càng tôn thêm vẻ cổ kính của ngôi chùa.

          Bất cứ ngày nào, Bạn cũng có thể đến viếng di tích này. Bóng mát bồ đề nơi cửa Phật sẽ đón bạn vào chốn tôn nghiêm nhất của thành phố Cà Mau.
( # )

2. Vào bên trong, các cột rồng : 44”

          Nơi Bạn đến viếng đầu tiên là gian chánh điện. Trên diện tích khoảng 100m2 , các trang trí kỳ công nhất được tập trung tại đây.

          Nổi bật là hệ thống cột. Nghệ thuật điêu khắc sẽ làm cho Bạn ngạc nhiên về sự khéo tay và độ tinh tế của người xưa. Hình tượng con rồng tượng trưng cho sự uy nghiêm và phồn thịnh được chạm trổ hết sức tỉ mỉ và thanh thoát.

          Bạn sẽ còn ngạc nhiên hơn khi biết rằng, chất liệu chính để tạo ra các chi tiết của con rồng là ô-dước, một loại nhựa cây trộn với vôi ; còn màu sắc thể hiện bên ngoài là sơn ta.

( # )
3. Người xem, các bức chạm trổ : 55”

          Ở phần trước của gian chính, Bạn có thể tìm hiểu kỹ thuật ốp sứ kết hợp với nghệ thuật chạm khắc. Các bao lam tam diện, mỗi vách có diện tích hơn 9m2 , được các nghệ nhân thể hiện tứ linh : Long, Lân, Quy, Phụng. Các vật linh này phối trí theo nguyên tắc đăng đối của hội họa Á Đông. Đáng chú ý nhất ở đây là bức tranh “Song Hổ Phi lộ”, được trang trí ngay trên bao lam, thay vì sự tích Phật Thích Ca như các chùa khác.

          Bức tranh “bát tiên” cũng được miêu tả một cách cải biên theo óc tưởng tượng của người Cà Mau. Tính cổ điển pha trộn với dân gian tạo thành những nét riêng của phong cách trang trí nội thất ngôi chùa.

          Đến đây, Bạn  có thể tự tìm hiểu hoặc nghe Thuyết minh viên Bảo tàng Cà Mau giới thiệu tổng quát lịch sử chùa Phật Tổ.

( Lời của Thuyết minh viên )

4. Người xem, tượng Phật, ni cô cắm nhang, tư liệu : 70”

          Cũng nên nhắc thêm, cách nay mấy thế kỷ, trên những bước đường khẩn hoang, cha ông ta đến đây, ngoài niềm tin vào sức mạnh đoàn kết đấu tranh vốn có của mình, còn mang theo cả truyền thống văn hóa, trong đó có tôn giáo – Một nhu cầu tâm linh vào thời bấy giờ.
( # )

          Khi những ấp, những làng mọc lên bên bờ sông hay bìa rừng, cha ông ta đã dựng chùa lập đình, tạo nên một cấu trúc thống nhất về tổ chức xã hội và văn hóa. Truyền thống đó được kế tục và giữ gìn qua nhiều thế hệ, để lại những nét đẹp trong lịch sử đất phương Nam.

( # )

          Đất mới trù phú, nhưng không kém phần khắc nghiệt. Người xưa không chỉ phải vượt qua bệnh tật và chướng khí, mà còn đối mặt với thú dữ và nhiều thế lực áp bức khác. Nhưng rồi, với khả năng thích nghi, người xưa đã dần dần chinh phục thiên nhiên. Chùa Phật Tổ là dấu ấn của thời kỳ đó còn được giữ lại đến ngày nay.

5. Chùa xưa (mờ), vào chùa, chữ di tích, rộng chùa, người xem sự tích ông Tô Quang Xuân :
( # )

          Chùa Phật Tổ còn là một di tích với nhiều sự tích được người Cà Mau truyền tụng, khiến Bạn phải suy gẫm. Chuyện kể rằng :

          . . . Năm ấy ở vùng Đầm Dơi, có một chàng trai họ Tô, tên Quang Xuân, một hôm vào rừng lấy củi, chuẩn bị cho ngày đám cưới.

          Trong lúc cặm cụi, Quang Xuân bỗng thấy một cuốn sách nằm trong bộng cây. Anh lấy ra xem thử thì đó lại là quyển Kinh Phật. Cầm vật quý trong tay Quang Xuân tự hỏi, phải chăng đây là điềm báo cho mình nên chọn đường tu theo Phật Thầy mà làm lành tránh dữ, cứu nhân độ thế ?! Nghĩ vậy, Quang Xuân quày quả trở về, thưa với cha mẹ xin từ hôn, xuất gia vào rừng lập Chùa. Ăn chay niệm Phật, hốt thuốc cứu người, nhà sư Quang Xuân còn chữa bịnh và thuần hóa cọp.

          Thấy ông có uy tín hơn người, bọn quan lại ghen ghét, ghép tội ông chống vua rồi bắt giải về triều đình Huế.

          Sau nhiều lần tra hỏi, nhà vua biết đây là bậc chân tu, bèn sai thả. Ông viên tịch sau đó ít lâu và được di hài về Cà Mau.

( # )

6. Nhánh bồ đề, lia xuống tháp, sắc phong : 31”

          Quý trọng vị chân tu, hành đạo thực tâm, người Cà Mau đồng lòng dựng lên ngôi tháp ngay sau chùa. Tháp có 5 tầng, tượng trưng cho “ngũ căn” 5 cái gốc để nhà sư Tô Quang Xuân tu luyện đến đạt đạo.

          Tiếng lành vang đến Triều đình. Năm Mậu Dần, 1842, niên hiệu Thiệu Trị thứ hai, đã sắc phong Hòa Thượng Tô Quang Xuân.
Có đoạn chiếu rằng :
Người linh địa cũng nên linh
Vương pháp tương đồng Phật pháp
           Hỡi ôi,
Tiên cảnh không trần
Thiên đường có nẻo
                   Trẫm vinh hạnh thấy một tấm lòng sùng thượng, một đạo trọn đời. Cầu siêu cho ngài quang thân nơi chín suối.

( # )

7. Ngọn tháp có cây bồ đề mọc. Khu tháp : 25”

          Gần hai thế kỷ trôi qua, pháp danh Thích Trí Tâm – Hòa Thượng Tô Quang Xuân vẫn hiển minh trong trong lòng người dân Cà Mau. Và do đó, ngôi tháp luôn được giữ gìn và tôn tạo, xứng đáng là nơi yên nghỉ niết bàn của vị chân tu.

( # )

          Tên gọi Chùa Phật Tổ cũng được lưu truyền từ ý niệm tôn kính người lập ra chốn tu hành đầu tiên của một vùng đất.

( # )

8. Tượng Phật trăm tay, cây xoay, tháp, cửa hầm bí mật : 22”

          Viếng chùa, ngắm tượng trăm tay, gợi cho Bạn nhiều điều suy gẫm về quyền năng của Phật Pháp hay đó chính là quyền năng lựa chọn của nhân dân. Thời chống Mỹ, dưới chân ngôi tháp này từng được nhiều phật tử xây hầm bí mật, làm nơi hoạt động của nhiều tổ trinh sát thuộc lực lượng biệt động thị xã Cà Mau. Khu tháp là điểm hẹn của các cánh quân từ vùng giải phóng luồn qua các sông rạch để vào tập kết giữa nội ô. Ta ẩn náu ở đây rất lâu, mất nhiều năm theo dõi địch mới phát hiện.

( Lời ông Tư Mã )

9. Tư liệu chùa, người xá, khách viếng :

          Chùa Phật Tổ vào những năm ấy là một cơ sở của Cách mạng. Nhiều chỗ linh thiêng nhất trong chùa lại là nơi cất giữ an toàn tài liệu bí mật. Dù có nghi ngờ, giặc cũng không dám khuấy phá trước sự khôn khéo đấu tranh của các vị tăng ni, phật tử.
( # )

          Ngày nay, khi đến viếng ngôi chùa di tích này, có thể Bạn thấy thú vị hơn ở những hiện vật vốn dĩ mang nhiều ý nghĩa Phật pháp này. Cái thiện và cái ác hiện hữu ở mọi nơi. Tâm hướng thiện mới diệt trừ điều ác, và Tâm có trong sáng mới hành đạo tốt – Phật Thích Ca đã nói đến điều đó từ hơn 2.500 năm trước.

          Khơi gợi mối nhân duyên ấy để nhắc lại chuyện người xưa, nhiều tăng, ni, phật tử của chùa trong thời kháng chiến đã vận dụng lý lẽ đó để đấu tranh với địch, giúp ích cho Cách mạng.
( # )

          Nhiều phật tử thuở bấy giờ giác ngộ trở thành nòng cốt trong phong trào đấu tranh đòi địch chấm dứt bắn phá, khủng bố ; đòi địch không được  đóng quân làm ô uế chùa chiền.

( Lời ông Tư Mã )

10. Các tăng ni vào, cận chắp tay gõ chuông : 16”

          Ngày nay, vẫn với tâm niệm của người hành đạo yêu nước, các tăng ni, phật tử của chùa Phật Tổ Cà Mau lại đem ý nguyện minh tuệ của mình mà cầu mong cho Đất Nước phồn vinh, thịnh vượng, nhân dân áo ấm cơm no.
( # )

          Lời tụng niệm cầu an cho Quốc Thái thực chất là một niềm mong ước không chỉ là của  giới tăng, ni ; mà đó cũng là niềm tin của tất cả mọi người.

          Trước kia Hòa Thượng Thích Trí Tâm – Tô Quang Xuân từng đem lòng từ bi mà giúp người, thì nay bằng hành động cụ thể của mình, các tăng, ni, phật tử của chùa Phật Tổ tiếp tục đem lòng bác ái mà phụng sự nhân sinh, giúp đỡ người nghèo – Tấm gương “dĩ đạo cứu nhân, thành tâm độ thế” của Hòa Thượng Tô Quang Xuân còn sáng mãi.

( # )

11. Chặt, phơi thuốc :

          Khi đến viếng chùa Phật Tổ Cà Mau, Bạn còn nhận ra những giá trị khác về y học cổ truyền ; về sự ứng dụng những kinh nghiệm chữa trị bằng  cây cỏ của dân gian. Chứng tỏ con người Cà Mau hiện đại biết khai thác các ưu thế của thiên nhiên, như Sư Thầy đã từng làm từ gần 200 năm trước- Chữa bịnh cho người và cảm hóa cả loài  thú dữ.

( # )

12. Lớp dạy nghề cắt may : 22”

          Ngôi chùa còn là chốn nương tựa của những người nghèo khổ, mồ côi. Vào ngôi nhà chung đầy lòng từ thiện này, những phận đời khó khăn trở nên ấm cúng. Nghề may được nhiều phật tử tự nguyện truyền dạy cho các cháu, những việc làm cụ thể, noi theo đức dấn thân của vị sư Tô Quang Xuân.
( # )

13. Mưa trên mái ngói : 24”

          Trải bao năm tháng và sự dãi dầu mưa nắng, ngôi chùa Phật Tổ không tránh khỏi quy luật biến đổi của đất trời.

          Gần 2 thế kỷ, từ cây lá đơn sơ đến các vật liệu gạch ngói, chùa Phật Tổ đã qua 9 lần trùng tu, nay đang tiếp tục cần được sửa sang.

( # )
14. Sửa chùa :

          Giữ gìn nguyên vẹn dáng cũ để bóng xưa còn mãi với lịch sử của một vùng đất, là ý thức và trách nhiệm của thế hệ hôm nay.

          Bạn có thể nâng niu một tấm ngói ; Bạn có thể chăm chút cho từng phiến gạch còn giữ nguyên đường nét nguyên thủy của nó – Đó là điều Bạn đang góp phần bảo vệ linh hồn của vốn cổ mà cha ông đã gửi lại cho đời sau.
( # )

          Kiến trúc chùa Phật Tổ Cà Mau không chỉ có hình dáng bên ngoài mà còn là ý nghĩa của nó bên trong. Mọi sáng tạo và sự kỳ công, xét cho cùng đó chính là kết quả lao động của nhân dân.

( Lời của Thuyết minh viên Bảo tàng )

15. Ra về, các di tích còn lại : 68”

          Thế là Bạn đã giã từ ngôi chùa Phật Tổ Cà Mau, nơi còn ghi đậm dấu ấn của thời khẩn hoang của tổ tiên ta.

          Chuyến tham quan về một di tích giữa thành phố cuối trời Tổ Quốc của Bạn đã kết thúc trọn vẹn. Nhưng nơi ấy còn đang tiếp tục gởi theo Bạn những điều thú vị từ bóng mát của lá từ bi.
( # )

          Tạm biệt khu di tích, giã từ những sự tích về Hòa Thượng Thích Trí Tâm, điều suy gẫm gì đang nhắc Bạn hãy thêm một lần quay lại với đất này ...

          Trân trọng những giá trị của quá khứ cũng có nghĩa là xác định nền móng của tương lai. Viếng chùa Phật Tổ Cà Mau, nhận diện được bóng xưa hồn  cũ có lẽ đã giúp Bạn hiểu rõ thêm một phần của lịch sử đất nước.

          Chùa Phật Tổ hay Sắc Tứ Quan Âm Cổ Tự – Một địa chỉ đang chờ Bạn viếng thăm.




TIẾNG CHUÔNG TAM BẢO NGÂN DÀI SÔNG KIÊN

(Tạm thời chưa có phim)

LỜI BÌNH

1. Tựa phim, sông Kiên, người vào cổng chùa : 37”
          Ngược dòng sông Kiên giữa lòng thị xã Rạch Giá, hay men theo Đại lộ Nguyễn Trung Trực, rồi rẽ vào con đường mang tên nhà sư yêu nước Thích Thiện An, Bạn đã đặt chân lên xứ sở của vùng đất Kiên Giang, nơi in đậm bước tiến về phương Nam của cha ông ta. Và, đây là một trong những di tích có lịch sử hơn 200 năm còn được bảo tồn.
(HDV Tuyết Vân giới thiệu)
2. Người vào chùa, đánh chuông, cảnh chùa : 52”
          Vào thập niên cuối của thế kỷ 18, bà Dương Thị Cán, còn có tên là Lê Thị Hoặng, đã dựng lên ngôi chùa bằng cây lá đơn sơ để bá tánh trong vùng đến cầu kinh tụng niệm. Từ đó ngôi chùa này được người dân Rạch Giá gọi là chùa Bà Hoặng.
          Chùa cất xong được vài năm thì Bà Hoặng qua đời. Các vị trụ trì sau đó đã cất đi sửa lại nhiều lần, nhưng đến năm 1917, dưới thời trụ trì của nhà sư Thích Trí Thiền, ngôi chùa mới được trùng tu với quy mô lớn.
          Ngôi chùa được kiến trúc theo ý niệm Tịnh Độ, một tông phái thuộc Phật Giáo Đại Thừa, lấy Tam Bảo, tức Phật – Pháp – Tăng làm cơ sở giác ngộ, tu thân. Vì vậy, chùa được tạo hình theo ý tưởng “Tam Thiên”, “Tam Kiếp” sự vô cùng của không gian, thời gian.
          Quan niệm âm dương, phong thủy cũng được áp dụng trong phong cách trang trí, tạo cho dáng vẻ ngôi chùa thêm đậm nét dân tộc ; tôn thêm vẻ uy nghi cho ngôi Tam Bảo.
( – )
3. Sân chùa, ao sen, người vào cổng : 40”
          Ngôi chùa nằm trong khuôn viên rộng 4.000m2. Phía sau gian chính điện được các nhà sư tạo cảnh quan sơn thủy. Giữa không gian tĩnh mịch và trầm mặc ấy, đã gợi nên vẻ thanh tịnh của thiên nhiên, sự cao khiết của hồn người ; thể hiện tính triết lý về chu trình “thành – trụ – dị – diệt” của thế giới quan nhà Phật ; còn gọi là “Vạn Pháp”.
4. Chữ Tam Bảo, Tượng, các bức điêu khắc : 57”      
          Phía trước chính điện là cổng Tháp Tam Bảo, ngõ chính dẫn vào gian thờ. Ở bệ thờ, các bức tượng được xếp đặt theo trật tự, ngôi thứ của hệ phái Bắc tông. Tất cả đều làm bằng gỗ quý, dùng sơn ta tạo màu sắc đặc trưng.
          Tiền diện bệ thờ được gắn 3 bức hoành phi ở bên trên 2 lớp bao lam. Mỗi bao lam được chạm trổ công phu các hình tứ linh : Long, Lân, Quy, Phụng. Toàn bộ các bao lam đều được sơn son thếp vàng nên trông càng thêm lộng lẫy.
( – )
          Sự bày trí ở nội thất không chỉ thể hiện nét thẩm mỹ dân tộc, truyền thống, mà còn biểu thị quan niệm Phật – Pháp – Tăng của tông phái Tịnh độ.
          Đời Gia Long 1802 – 1820, ngôi chùa được sắc phong “Sắc Tứ Tam Bảo Tự”.
(Cô Tuyết Vân dẫn sang các nhân vật)
5. Các em vào nhìn bảng di tích ; tờ Tạp chí :
( – )
          Đạo pháp và dân tộc có cùng một cơ duyên. Vì lẽ ấy khi cách mạng vận động nhiều nhà sư sẵn sàng tham gia. Và ngôi chùa Tam Bảo trở thành Trụ sở liên lạc của xứ ủy Nam kỳ. Đó cũng là điều tất yếu bởi các nhà sư tu hành nơi đây cũng là con dân của nước Việt Nam bị thực dân đô hộ, không có độc lập dân tộc thì không thể tự do hành đạo. Do đó, khi cuộc kháng chiến chống Pháp nổ ra, nhiều nhà sư đứng ngay vào hàng ngũ cách mạng và ngôi chùa từ đó gắn liền với lịch sử đấu tranh của nhân dân Kiên Giang.
          Trong số những nhà sư có tư tưởng tiến bộ ở Rạch Giá lúc bấy giờ có hòa thượng Thích Trí Thiền, tục danh Nguyễn Văn Đồng. Ông không những có công tu tạo hoàn chỉnh chùa Tam Bảo mà còn là một sáng lập viên của Tạp chí Tiến Hóa, cơ quan ngôn luận của Hội Kiêm Tế Phật học Rạch Giá. Từ năm 1938, nhiều cây bút tiến bộ ở Sài Gòn đã tham gia viết cho tờ báo này. Các tác giả đã dựa trên tư tưởng Phật Giáo để đấu tranh chống lại những kẻ lợi  dụng Phật Giáo ; những kẻ ăn bám thực dân, phản lại nòi giống Tổ Tiên. Tờ Tiến Hóa đã ảnh hưởng sâu rộng trong giới Phật tử ở Rạch Giá, các tỉnh Miền Tây và Sài Gòn.
          Hòa Thượng Thích Trí Thiện bị bọn mật thám theo dõi ráo riết, và ngày 14/6/1941, ông bị giặc Pháp bắt, rồi đày đi Côn Đảo.
( – )
6. Cửa tù, các nhà sư, ảnh :  
          Trong ngục tù đế quốc, Hòa Thượng Thích Trí Thiện tổ chức tuyệt thực, đấu tranh đòi hòa bình, đòi tự do hành đạo. Cuộc đấu tranh kéo dài đến ngày 26/6/1943 thì Hòa Thượng Thích Trí Thiện viên tịch, người công dân Việt Nam Nguyễn Văn Đồng hy sinh vì Tổ Quốc.
( – )
          Thân xác nhà sư yêu nước đã hóa thành cát bụi trên đất đảo, nhưng linh hồn ông thì trở về chùa cũ mà phiêu diêu, nơi ông tâm nguyện tôn ngôi Tam Bảo làm nguyên lý sống, lấy tình yêu Tổ Quốc làm mục đích cho cả đời mình.
( – )
          Vạn vật luôn thay đổi ; tạo hóa cứ vần xoay ; con người vẫn sinh tồn, và ngôi chùa tiếp tục làm nơi ngưỡng vọng của Phật tử, nhớ mãi những bậc tu hiền biết sống vì lẽ đạo, biết chết vì nghĩa đời … Ngôi Tam Bảo lặng yên, trầm mặc để tôn vinh những vị sư vì nước vì dân …
( Tiếng đọc kinh )
7. Các vị sư cúi đầu đọc kinh :
          Đức Phật từng dạy rằng, muốn cứu khổ chúng sinh phải giữ niềm tin vào sự giác ngộ, muốn giác ngộ phải để cho tâm tính yên tĩnh, không vọng động, phải biết hướng thiện mới có thể đạt cõi niết bàn.
          Xưa kia, Thái tử Tất Đạt Đa (tức Phật Thích Ca sau này), ông sống trong giàu sang nhung lụa, nào biết những bất hạnh của người đời. Thế rồi nhờ diệt trừ vô minh, tránh thói tham, sân, si, ông trở thành nhà Phật.
          Nhắc lại tích cũ để chiêm nghiệm rằng, mọi người đều có thể tự mình tu luyện để sống đẹp hơn, giúp ích cho đời nhiều hơn. Và, những phật tử Chùa Tam Bảo đang từng ngày hành đạo như thế.
( – )
8. Cầm nhang xá, cặm :
          Người Kiên Giang tin rằng, ngọn lửa truyền thống yêu nước từng được các nhà sư tiền bối thắp sáng đang được tiếp tục truyền nối, để mọi người cùng nhau chung sức chung lòng xóa bỏ đói nghèo, xây dựng quê hương.
( – )
9. Chùa, tượng thiện, ác, tượng Phật, mõ chuông :
          Bảo vệ, giữ gìn và tôn tạo di tích lịch sử, di tích văn hóa là trách nhiệm của tất cả mọi người. Vì vậy, người dân Rạch Giá Kiên Giang coi ngôi chùa Tam Bảo là di sản của cha ông cần được bảo tồn.
          Các bức tượng Phật đang lặng lẽ nhưng lại có tiếng nói riêng – Đó  là những tác phẩm do nghệ nhân Tài Công Can tạo ra cách nay hàng trăm năm cho thấy rằng người dân vùng Rạch Giá khéo tay, rất tinh xảo trong nghề điêu khắc.
( – )
          Chuông Chùa vốn để ngân vang theo tiếng kinh cầu nguyện. Thế nhưng, với chuông chùa Tam Bảo lại cất lên tiếng vọng đấu tranh, báo hiệu ngày giờ tập hợp quần chúng, thông tin những giờ khắc bọn địch dò la theo dõi.
          Những năm 1939 – 1940, chùa Tam Bảo là nơi sản xuất cất giấu vũ khí chuẩn bị cho cuộc Nam kỳ khởi nghĩa. Ngay trong khuôn viên này, nhiều hầm bí mật đã được các nhà sư tạo ra để cất giấu tài liệu.
          Nơi đây còn là trạm nút giao liên của tỉnh ủy Rạch Giá. Nhiều cuộc họp bí mật diễn ra ngay trong gian chính điện của ngôi chùa.
          Di tích chùa Tam Bảo không những có ý nghĩa về lịch sử cách mạng, mà còn đánh dấu sâu sắc trong lịch sử đấu tranh của Phật Giáo Việt Nam.
( Lời ông Đại Đức Chơn nói về sự kiện chuẩn bị Nam kỳ khởi nghĩa)
10. Bàn thờ, chân dung ông Thiện An : 13”
          Thế nhưng, khi ngọn lửa Nam kỳ khởi nghĩa sắp bùng lên trên mảnh đất Rạch Giá thì đêm 14/6/1941, bọn mật thám địch đến vây ráp chùa Tam Bảo, lục soát và bắt nhà sư Thiện An.
( Lời ông Đại Đức Chơn kể lại câu chuyện )
11. Chân dung ông Sư Thiện An, bằng liệt sĩ, cặm nhang :          
          Nhà sư Thiện An ngã xuống, vì lẽ đạo, nghĩa đời ; người đảng viên cộng sản Trần Văn Thâu hy sinh, vì nước, vì dân …
( – )
          Ngọn lửa minh tuệ nào làm bừng sáng cõi tu, để các nhà sư chùa Tam Bảo dấn thân quên mình vào cuộc tranh đấu ? – Chỉ có tình yêu nước và khát vọng độc lập tự do mới đưa các vị sư chân tu đến tầm giác ngộ như thế.
( – )
          Sau cuộc Khởi nghĩa Nam kỳ, ở Rạch Giá có đến hàng chục tăng ni lần lượt bị giặc bắt, tù đày. Điều đó chứng minh rằng chùa Tam Bảo thực sự là một căn cứ hình thành từ lòng nhân dân.
( – )
          Ngày nay hay bất kỳ thời đại nào, đoàn kết dân tộc là sức mạnh thần kỳ để làm nên mọi thắng lợi. Tiếng chuông đấu tranh vì hòa bình vang lên từ chùa Tam Bảo đã khẳng định một phần chân lý ấy.
12. Rước đèn :
          Trải mấy thời kỳ kháng chiến, trải bao năm xây dựng hòa bình chùa Tam Bảo với nét đẹp lịch sử hãy còn lung linh theo nhịp bước của thời gian, nay càng đẹp hơn bởi nơi ấy đang tiếp tục thắp sáng ngọn lửa đoàn kết mà xây dựng quê hương.
          Phật từng dạy rằng, của cải lớn nhứt của đời người là lòng nhân ái, và mỗi tăng ni Phật tử của chùa Tam Bảo đang từng giờ cầu nguyện cho một thế giới an bình ; cho một xã hội công bằng ; mỗi người đều được hưởng ấm no, từ bi, hỷ xả.
( – )
13. Cảnh chùa, ao sen, ảnh các vị lãnh đạo :    
          Chùa Tam Bảo với nét đẹp cổ kính, với không gian thâm u trầm mặc, hẳn đã gợi cho biết bao khách thập phương lắm điều suy gẫm. Nhiều người đã nghe đến Phật nhưng chưa ai nhìn thấy Phật, chỉ biết cuộc sống bao giờ cũng cần đến điều thiện và mỗi người cần làm điều thiện để giúp đời.
          Đến chùa Tam Bảo, Bạn còn tìm gặp hình ảnh các vị lãnh tụ từng đến viếng thăm, nhắc nhở phật tử và nhân dân chăm lo giữ gìn ngôi chùa di tích, phát huy tinh thần đoàn kết đạo đời. Coi đây là một trường học lớn giáo dục thế hệ trẻ.
          Và như thế, cho dù sự dần xoay, chuyển hóa của thời gian có nhanh hơn, những dấu ấn lịch sử để lại nơi chùa Tam Bảo không thể phai mờ. Bởi ở đó những vị sư yêu nước đã ngã xuống, gieo mầm truyền thống đấu tranh cho lẽ đạo ý đời.
( HDV Tuyết Vân )
14. Các phật tử ra về ; sông Kiên :
          Người ta thường hay nói, đi ra khỏi chùa mới biết điều gì để lại ở lòng mình. Hẳn là những nét đẹp lịch sử của chùa Tam Bảo đang gởi theo cùng bạn những ý gẫm về một sức sống bắt nguồn từ lòng yêu nước.
          Cho dù bạn là người phàm hay là một phật tử mộ đạo, khi tiếng chuông Tam Bảo còn ngân dài trên sông Kiên sẽ là một lần nhắc bạn trở về thăm khu di tích lịch sử này./-




LÒNG NGƯỜI MIỀN TÂY VỚI BÁC HỒ

(Tạm thời chưa có phim)

 LỜI BÌNH

1. Đền thờ xưa giữa rừng, người viếng, đền ngày nay người viếng : 34”
          Sau ngày Bác qua đời, nhiều ngôi đền mộc mạc như thế được dựng lên ở nhiều nơi trên miền đất đồng bằng. Dưới tầm bom pháo giặc, giữa vùng căn cứ, người miền Tây vẫn thành tâm hướng về vị cha già kính yêu.
          Bác đã đi xa rồi nhưng hình bóng của Người vẫn luôn hiển hiện thiêng liêng. Dù nơi đó cách không xa đồn giặc ; dù nơi đó là chiến trường ác liệt, vượt cả không gian và thời gian, Bác vẫn anh linh tỏa sáng giữa lòng người miền Tây.
(Tựa phim)
2. Người vào viếng đền, tượng Bác, cặm nhang, cấp đất : 35”
          Như cả dân tộc, người miền Tây tôn thờ Bác bằng cả lòng thành ; tấm lòng của lớp lớp cháu con biết hàm ơn Người đã đem đến cho Đất Nước, cho nhân dân miền đất này Độc lập Tự do, cơm no áo ấm.
          Còn nhớ mãi, sau khi cách mạng Tháng Tám thành công, Chính phủ, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh, đã chủ trương cấp đất cho dân cày. Người nông dân, từ kiếp sống bần cùng nô lệ, “một cổ hai tròng” trở thành những người chủ mới trên mảnh ruộng thửa vườn của một đất nước độc lập.
(Lời ông Phạm Thành Võ về công ơn Bác).
3.  Cò bay trên ruộng, mộ, bà Sảnh, cây vú sửa : 42”
          Làm chủ những cánh đồng “cò bay thẳng cánh” của mình, người nông dân miền Tây Nam bộ sâu nặng nghĩa ân với Đảng, với Bác Hồ.
          Trên đất Cà Mau, có một câu chuyện trở thành sự tích. Má Lê Thị Sảnh, một nông dân ở xã Trí Phải huyện Thới Bình, trước lúc qua đời đã căn dặn con cháu mình hãy để bà yên nghỉ dưới cây vú sữa, một giống cây mà bà đã gởi ra miền Bắc vào cuối năm 1954. Má đã toại nguyện và ngủ yên dưới lớp đất cách mạng cấp năm nào. Còn người dân Trí Phải nhớ hoài cái buổi tiễn đưa lịch sử của những ngày tập kết.
(Ông Phận nói về cây vú sữa gởi ra miền Bắc).
4. Tàu, bà mẹ tiễn bộ đội, ảnh tập kết, cửa sông, nhà sàn, vườn Bác : 36”
          Ở bến tập kết sông Đốc hôm ấy, trong ba-lô người đại đội trưởng Tiểu đoàn 307 mang theo cây vú sữa bé nhỏ mà nặng trĩu tấm lòng của người mẹ Cà Mau đối với đồng bào miền Bắc ruột thịt, đối với Bác Hồ kính yêu.
          Sau mấy ngày vượt biển, sáng mùng 2 Tết năm Đinh Mùi, cây vú sữa Trí Phải được cán bộ miền Nam mang đến dâng tặng Bác.
          Ngay đầu xuân năm ấy, cây vú sữa của tấm lòng miền Nam được Bác đem trồng trong khuôn viên phủ Chủ tịch, trước căn nhà Bác ở.
          Ngày ngày Người chăm sóc cho cây mau bén rễ, đâm chồi và cây vú sữa trở thành biểu tượng về tấm lòng của Bác với miền Nam.
(7” nhạc trên hình Bác tưới).
5. Mặt trời mây che, ấp chiến lược, làng rừng, ảnh : 28”
          Cây vú sữa Bác trồng vừa tròn năm thì miền Nam đầy bóng giặc. Mỹ-Diệm lập “khu trù mật”, gom dân, cách ly Đảng với quần chúng cách mạng.
          Quyết không để giặc kềm kẹp, nhiều nơi ở miền Tây, nhân dân đã tự tổ chức làng rừng. Có những cụ già bí mật giấu ảnh Bác mang theo. Chốn rừng sâu, giữa lúc đen tối, hình ảnh Bác là nguồn sáng lòng tin của tất cả mọi người.
(5” nhạc).
6. Thành thị, bàn thờ có chữ Chí và Tâm, vẽ : 43”
          Ở vùng thành thị, người dân phải qua mắt địch để hướng về Bác. Ông Tử Minh ở Cà Mau, viết 4 chữ Nhật Nguyệt Sĩ Tâm trên bàn thờ. Khi giặc hỏi, ông nói đó là câu dạy làm người của thánh nhân. Chúng đâu ngờ, 4 chữ ấy là chiết tự của hai chữ Chí Minh. Lòng người miền Tây đối với Bác là vậy.
          Sống trong vùng địch tạm chiếm, có những gia đình không tìm được ảnh Bác, phải vẽ chân dung Người bằng trí nhớ. Họa sĩ Nguyễn Thanh Lăng đã vẽ rất nhiều ảnh Bác chuyển đến các gia đình cơ sở trong nội ô thị xã Cà Mau. Riêng ông kín đáo thờ phụng ở nơi trang trọng nhất của nhà mình.
(Lời ông Lăng về cách cất giấu).
7. Anh Bác, bàn thờ, người đốt nhang : 15”
          Trong những năm hoạt động bí mật, gầy dựng cơ sở binh vận rất khó khăn. Vậy mà đồng chí Nguyễn Thuận Triều đã dùng phương pháp vận động quần chúng bằng cách chuyền tay trao ảnh Bác, thu phục được lòng người.
(Lời ông Triều về vấn đề trao ảnh).
8. Biểu tình, rào gai, nữ tù, đống đồ, tòa : 20”
          Khi các cơ sở hình thành, phong trào đấu tranh ở vùng thành thị thêm sôi sục. Địch vây ráp, bắt bớ liên miên. Trong số nữ tù ấy có chị Trần Thị Lý. Sau nhiều ngày tra tấn tàn nhẫn, một hôm, chúng ném ảnh Bác và cờ Tổ quốc xuống đất, bảo chị bước qua chúng sẽ tha bổng trước tòa.
(Lời kể bà Lý về sự kiện nâng ảnh Bác).
9. Tòa án, người ghi chép, rộng cảnh, rào gai, mặt trời : 10”
          Trước lý lẽ sắc bén đó, phiên tòa của địch trở thành nơi đấu tranh công khai của các nữ tù chính trị.
(5’ nhạc).
10. Sông Cao Lãnh, ngọn nến tắt, người cặm nhang, khu di tích cụ Phó Bảng ; cánh sen trôi, viếng : 1’
          Ơn Bác như núi cao sông rộng, người miền Tây càng kính yêu Bác, càng biết quý trọng cội nguồn ... Cao Lãnh, ven bờ sông Hậu, nơi cụ Nguyễn Sinh Sắc từng đến đây truyền bá chủ nghĩa yêu nước, và cũng là nơi cụ yên nghỉ trong lòng nhân dân Đồng Tháp.
          Sau hơn 10 năm hoạt động ở vùng này, ngày 26/11/1929, cụ qua đời. Mộ cụ được bà con Cao Lãnh hương khói và giữ gìn suốt những năm giặc Pháp chiếm đóng và thời kỳ Mỹ – Ngụy kiểm soát sau này.
(5” nhạc).
          Đất Đồng Tháp mãi mãi lộng sâu hình bóng một cuộc đời bác ái ; hương sen Đồng Tháp mãi mãi tỏa ngát hương hồn một con người bỏ chốn quan trường, mang lòng yêu nước thương dân đến với muôn người ...
(6” nhạc).  
          Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, khu mộ cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc được xây dựng lại và trở thành nơi ngưỡng vọng của người dân miền Tây.
(10” nhạc).
11. Mặt trời, tàu buồm, ông Dĩa, chất vũ khí : 48”
          Miền Tây Nam bộ tự hào là nơi sớm nhất mở đường ra miền Bắc, tạo cơ sở cho đường Hồ Chí Minh trên biển. Sau Đồng Khởi, các tỉnh Nam bộ nhận chỉ thị của Trung ương, bí mật tổ chức con đường vận chuyển vũ khí về miền Nam. Ngày 1 tháng 8 năm 1961, chuyến tàu do đồng chí Bông Văn Dĩa làm thuyền trưởng đã rời bến Rạch Gốc, mũi Cà Mau. Sau một tuần lênh đênh trên biển, chiếc thuyền buồm ngụy trang tàu đánh cá đến Quảng Bình.
          Một năm sau, chuyến tàu đầu tiên mang nặng nghĩa tình miền Bắc đã cặp bến cũ an toàn.
(10”nhạc).
12. Xem ảnh triển lãm, các ảnh Bác, người xem, ảnh ông Dĩa và vật kỷ niệm, la bàn : 37”
          Con đường mang tên Bác trên biển Đông đã nối gần lại khoảng cách Bắc – Nam ; người dân miền Tây xa xôi như được gặp Bác, được tiếp thụ hơi ấm từ trái tim vị Cha già kính yêu.
(6” nhạc).
          Sau nhiều chuyến ra Bắc vào Nam, Anh hùng Bông Văn Dĩa vinh dự được gặp Bác. Những món quà mà Người trao tặng, đồng chí giữ gìn như vật kỷ niệm thiêng liêng ; như kim chỉ Nam cho suốt cuộc đời.
(5’ nhạc).
13. Má Ảnh lấy báo, đọc, cận bài “lặng lẽ” : 16”
          Là người Cà Mau tập kết, bà Hồng Nguyệt Ảnh vinh dự được sống những ngày bên Bác.
          Như đứa  con hiếu thảo phụng dưỡng đấng sinh thành, bà dâng lên người những món ăn giản dị của Nam bộ. Bà nhớ như in kỷ niệm năm nào.
(Lời bà Ảnh).
14. Bác đi xuống cầu thang, nhìn ngọn vú sữa, ông Mậu nhìn, tư liệu miền Bắc, ông Mậu : 23”
          Không sao nói hết tấm lòng của những đứa con miền Nam với vị cha già ; cũng không sao kể xiết tấm lòng của Bác với miền Nam !
          Đồng chí Nguyễn Hùng Mậu, chiến sĩ thuộc lực lượng bộ đội của Quân khu 9 tập kết, không thể nào quên những ngày đầu khi đơn vị ông vừa đặt chân lên đất Bắc vào một ngày cuối Đông 1954.
(Lời ông Mậu).
15. Bác vào hội trường, khoát tay, người vỗ tay, lúa, súng, giã gạo, tất cả cho tiền tuyến : 56”
          Một ngày miền Nam chưa giải phóng là một ngày Bác ăn không ngon ngủ không yên ...
          Niềm mong ước của Bác đã thúc giục đồng bào chiến sĩ cả nước dốc sức đánh Mỹ. Nhân dân miền Bắc sẵn sàng xẻ hột gạo làm 2 làm 3 cho tiền tuyến lớn ; đồng bào miền Nam vừa sản xuất vừa chiến đấu. Miền Tây Nam bộ là một chiến trường lớn và cũng là một hậu phương quan trọng, cung cấp người, của cho cuộc kháng chiến. Cuối năm 1967 vùng nông thôn giải phóng ở ĐBSCL chiếm 2/3 đất đai và 3/4 dân số.
          Bài thơ chúc Tết Mậu Thân của Bác càng làm cho quân dân ta khắp nơi thêm háo hức xông lên với cuộc tổng tiến công nổi dậy mùa xuân 1968 long trời lở đất.
(12” âm thanh + nhạc).
16. Cận xông lên, cháy xe, địch chạy, tàu địch vào rừng đước bắn phá, trái mấm mặt trời : 35”
          “Tiến lên chiến sĩ đồng bào !”, lời Bác gọi hơn cả lệnh truyền xung phong. Quân dân miền Tây Nam bộ tiến đánh vào hầu khắp các sào huyệt của kẻ thù.
          Để gỡ thế thất bại, địch điên cuồng đánh phá vào vùng giải phóng. Ở miền Tây, Mỹ – Ngụy dùng chiến thuật “hạm đội nhỏ trên sông”, thực hiện chiến lược “bình định cấp tốc”, dùng bom đạn tát dân ra vùng chúng kiểm soát.
(ngưng 2”).
          Ở nhiều nơi như đất mũi Cà Mau, đồng bào ta quyết tâm bám đất, không còn lương thực, phải ăn cả trái từng độn cơm suốt nhiều tháng liền.
          Giữa lúc khó khăn ác liệt đó thì người dân miền Tây đột ngột nghe tin Bác đã qua đời.
(7” nhạc buồn).
17. Chiếc gậy, dép râu, quan tài, người khóc : 30”
          Vậy là Bác đã ra đi, người dân miền đất này không còn được rước Bác vào thăm ...
          Ôi Bác đi xa ! Trái tim nào chịu nổi
          Cả nước chúng con xin thọ ơn Người
          Những gương mặt nhìn nhau không nói
          Lòng quặn đau trong tiếng nấc : Bác ơi !
(5” nhạc).
Gạt dòng nước mắt tiếc thương, người dân miền Tây Nam bộ nguyện trước hương hồn Bác, quyết thực hiện trọn vẹn di chúc của Người.
(20” nhạc).
Những ngày nhân dân miền Tây thọ tang Bác, những ngày lịch sử dân tộc trải qua một cơn đau lớn đã để lại dấu ấn không thể xóa nhòa trong ký ức mọi người.
(Lời ông Luận).
18. Cao Đài và Khmer làm lễ : 25”
          Thọ tang Bác, tín đồ các tôn giáo ở miền Tây Nam bộ hướng về vong linh người mà cầu siêu cho bậc chí thiện, chí minh, một đấng bồ tát suốt đời phụng sự cho quần sinh thế thái.
          Riêng người Khmer Nam bộ, những người nhận ân hậu từ cách mạng Tháng Tám, khi hay tin Bác mất, ở vùng giải phóng hay nơi địch kiểm soát đều ngậm ngùi chung một nỗi đau.
(Lời ông Lâm Nuôl).
19. Chân dung Bác, mặc niệm, đánh tàu : 52”
          Hướng về Bác, mọi tầng lớp, quân dân miền Tây nguyện một lòng đoàn kết, quyết thực hiện lời căn dặn trước lúc ra đi của Người.
          Bác vẫn đến bên từng đơn vị bộ đội Đồng bằng ; Bác vẫn về cùng đội săn tàu miền Tây, diệt “hạm đội nhỏ trên sông”. Có Bác như có thêm ngàn sức mạnh, nâng bước quân dân ta vượt qua khó khăn thử thách, đánh bại âm mưu bình định của kẻ thù.
(15” nhạc và tiếng nổ).
20. Xuồng vào rạch, làng rừng : 13”
          Cuối năm 1969, sau những trận đánh tàu thắng lợi như thế, bà con vùng Đất Mũi Cà Mau thường hay tề tựu lại ăn mừng, nhưng các mẹ thì không vui vì nhớ Bác.
(Ông Phước Xem nói về việc xông đền).
21. Đốn đước “ 10”
          Chọn những cây đước đẹp nhất của quê hương mình, người dân Nhà Hội, Tân Ân đã dựng lên đền thờ Bác – một trong số 15 ngôi đền ở Cà Mau.
(ông Xem nói tiếp).
22. Đền thờ, rước ảnh, người báo cáo, trực thăng đến, ngụy trang đền, học sinh để bỏ chông : 49”
          Đền thờ được dựng lên giản dị mà uy nghi giữa làng rừng, giữa niềm tôn kính của người dân ở mảnh đất xa xôi này.
          Dưới bóng đước mát rượi của Đất Mũi Cà Mau, hình bóng vị cha già như hiển hiện về đây ; kề bên cháu con, truyền hơi ấm niềm tin vào mỗi con người ...
(7” nhạc)
          Mỹ ngụy tưởng rằng đánh phá đền thờ Bác sẽ làm nhụt chí quân dân ta. Nhưng, chúng đã chạm đến nơi tôn kính thiêng liêng nhất. Ngay lập tức chúng bị trừng phạt, các đền thờ Bác vẫn an toàn. Nhiều đội du kích tí hon hình thành, tham gia gìn giữ nơi tôn nghiêm.
(Lời ông Liêm về đội du kích tí hon).
23. Các cháu đứng trước bàn thờ, múa, B52, nhà sập, làm đền thờ Long Mỹ: 34”
          Từng ngày trước Bác như thế, nhiều đội viên đã trưởng thành. Đền thờ Bác là chốn thiêng liêng, là nơi để đồng bào chiến sĩ  nhớ Bác nuôi chí bền đánh giặc.
(3” nổ B52)
          Vào các năm 69 – 70, địch ráo riết đánh phá, bình định, chia cắt vùng giải phóng liên hoàn của ta. Long Mỹ, tỉnh Cần Thơ là một trong những chiến trường ác liệt. Trong cảnh gian khổ ấy, người dân ở đây vẫn bám đất, đồng lòng dựng đền thờ Bác. Kẻ công, người của, ngôi đền hoàn thành không lâu sau ngày Bác mất.
(Lời ông Thống).
24. Người vác, cặm chông : 14”
          Có đền thờ Bác, quân dân Long Mỹ như được nhân lên sức mạnh, quyết biến đau thương thành hành động cách mạng. Bằng chông lôi, bằng nỗ lực đánh phá bình định, phong trào du kích chiến tranh dâng lên hừng hực.
(ông Thống nói tiếp).
25. Xã Lương Tâm, họp trong đền, viếng, đi ra, sông, bóng, Long Phú, người nói : 43”
          Xã Lương Tâm của huyện Long Mỹ bây giờ là một làng quê đẹp. Đền thờ Bác năm xưa được xây dựng lại, càng làm cho xứ sở này khang trang hơn.
          Ngày ngày các ba kháng chiến, các mẹ chiến sĩ lại đến viếng Bác, để nhắc lại truyền thống đánh Mỹ, nhắc nhau giữ gìn khu di tích. Đó cũng là cách bày tỏ lòng thành của người Cần Thơ với Bác Hồ kính yêu.
(8” nhạc).
          Lòng người miền Tây với Bác bao giờ cũng dạt dào như sóng nước Cửu long. Cù lao Dung giữa dòng sông Hậu, quê hương của “Long Phú mến yêu” nơi có một ngôi đền được dựng lên trong đạn bom.
(Lời ông Hiệp)
26. Đền trong xóm, vườn dừa, sông Tiền, đền Long Đức, người xem ảnh:31”
          Mỗi làng quê ở miền Tây có một lịch sử riêng hướng về Bác. Bên bờ sông Tiền, xã Long Đức chỉ cách tỉnh lỵ Trà Vinh chưa đầy 5km, đền thờ Bác được dựng lên giữa vành đai phong tỏa của kẻ thù. Ngày nay trong khung cảnh khang trang, khách viếng sẽ ngỡ ngàng tự hỏi vì sao thuở ấy người dân Long Đức lại vượt qua nổi hiểm nguy mà cùng nhau lập nên ngôi đền tưởng niệm Bác – Mọi việc bắt đầu từ cuộc họp thỉnh nguyện ý dân.
(Lời bà Nhẫn về cuộc họp).
27. Chẻ tre, vẽ chân dung Bác, ảnh người vào đền, khách vào viếng, mặc niệm, cặm nhang : 30’
          Mọi người dân Long Đức đều nghĩ vậy nên đồng lòng hợp sức, đem lòng tôn kính Bác mà tạo dựng khu đền. Đến ngày sinh nhựt hay ngày giỗ Bác, nhân dân thị xã Trà Vinh qua mắt giặc tề tựu về đây tưởng niệm Người.
          Ngày nay, khách viếng từ các nơi đến không chỉ chia sẻ lòng thành của người dân Trà Vinh đối với vị cha già kính yêu của dân tộc, mà còn khâm phục bao con người dũng cảm bảo vệ ngôi đền thờ Bác ở ngay cạnh vòng rào của địch.
(Lời hướng dẫn viên).
28. Đền thờ Long Đức, nhà bà Bái, nói nghe, ảnh Bác trên bàn thờ : 21”
(5” nhạc)
          Thành tâm của người miền Tây với Bác đọng lại ở từng con người theo một cách tôn kính riêng.
          Bà Trần Thị Bái, một nông dân Cà Mau, lập bàn thờ Bác ở nơi tôn nghiêm nhất để ngày ngày hương khói, như có Bác về trong tâm tưởng của mình.
(Lời bà Bái)
29. Cúng ở các gia đình xưa, cúng ngày nay : 15”
          Trong thời chiến cũng vậy, dưới bom đạn giặc, nhiều gia đình vẫn tổ chức giỗ Bác như ngày cúng cơm ông bà. Lòng thảo ngay bình dị đó của người dân miền Tây đối với Bác Hồ vẫn còn giữ vẹn nguyên đến nay.
(Lời bà Ut)
30. Cặm nhang, đền thờ các  nơi, múa hát : 52”
          Hướng về vị cha già kính yêu, dù ở mỗi gia đình hay ở đền thờ chung, tấm lòng thành của người miền Tây với Bác vẫn thiêng liêng trong nhịp rung của triệu triệu con tim.
          Từ mũi Cà Mau chót cùng Tổ quốc, đến bên bờ Tiền Giang, Hậu Giang, ở đâu Bác cũng hiển hiện giữa lòng dân.
          Ngày xưa trong kháng chiến, dù giữa rừng sâu hay nơi gian nguy ác liệt, Bác vẫn tỏa sáng niềm tin.
          Ngày nay, Đất Nước thanh bình, Bác càng lung linh trong lẽ sống của dân tộc.
          Dưới vườn ươm mà Người đã dầy công gieo tưới, các thế hệ ở miền đất này nguyện xứng đáng là cháu con của Bác ; nguyện xây dựng Đất Nước ngày càng giàu đẹp hơn , như người hằng mong mỏi.
          Lòng người miền Tây hướng về Bác như hướng về tương lai Tổ quốc, bởi nơi ấy luôn rạng ngời ánh bình minh của thời đại.